Loading...
  1. Chú ý: ĐĂNG ĐÚNG CHUYÊN MỤC, SPAM LÀ KHÔNG CÒN ĐẤT SỐNG CHO BẠN!
    Dismiss Notice

Hà Nội Hướng dẫn xây dựng hệ thống Apache Cluster

Thảo luận trong 'Thiết bị Kỹ thuật số' bắt đầu bởi maychuhanoi, 7/12/18 lúc 02:02.

  1. maychuhanoi

    maychuhanoi Member

    Nếu khách hàng là 1 trong những system admin thì bạn luôn phải lưu ý đến tính trở nên tân tiến của khối hệ thống . Lấy một ví dụ cụ thể chi tiết Công Ty bạn có 1 webserver và mọi khách truy cập vào website đó để mang thông báo về quý khách.

    Vậy ta đưa ra một trường hợp nếu một ngày nào đấy server bị lỗi thì không có chuyên viên nào sử dụng được vậy việc làm sẽ bị gián đoạn. Vậy chúng ta có chiến thuật tạo nên 2 máy chủ webserver cùng tác dụng nếu một máy chủ nào đó chẳng may bị hỏng hóc tự động sever còn lại sẽ đóng vai trò thay thế. Đó chính là giải pháp Cluster Apache High Availability.Cluster thay thế lỗi (failover cluster) được sử dụng để đảm bảo an toàn tính sẵn sàng cho những Thương Mại Dịch Vụ & phần mềm khối hệ thống khi bị tấn công, xử lý các lỗi phần cứng và không may do môi trường. Trong bài này chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn phương thức thực hiện một cluster Apache hai nút, khẳng định an toàn và lợi nhuận cao với phần mềm mê hoặc của dự án công trình The High-Availability Linux. Cluster đó đã được kiểm tra trên các phân phối Fedora Core 5, CentOS 4.3, & Ubuntu 6.06.1 LTS server.

    Trong môi trường xung quanh cluster, hệ thống ‘có tính sẵn sàng cao’ (high ability – HA) chịu trách nhiệm ban đầu và kết thúc các Dịch Vụ Thương Mại, thiết lập và gỡ bỏ tài nguyên, thống kê giám sát năng lực chuẩn bị của hệ thống trong môi trường cluster và điều khiển và tinh chỉnh quyền chiếm hữu địa chỉ IP ảo chia sẻ giữa các nút cluster. Dịch vụ heartbeat (trung tâm) cung ứng các tính năng cơ sở rất cần thiết cho khối hệ thống HA.

    >>> Xem thêm: HP ML10 Gen9

    thông số kỹ thuật cluster thông dụng nhất là standby, sẽ được diễn đạt tiếp sau đây. Trong thông số kỹ thuật cluster này, một nút tiến hành tất cả các việc, còn các nút khác ở trạng thái nghỉ dưỡng. Heartbeat đo lường và thống kê “sức khoẻ” của từng Dịch vụ cụ thể, bình thường sang 1 giao diện Ethernet phân tách vốn chỉ dùng cho khối hệ thống HA sử dụng câu lệnh đặc biệt quan trọng ping. Nếu vì một Lý Do gì đấy, nút đang triển khai bị hỏng, heartbeat sẽ chuyển toàn bộ phần tử HA sang nút khoẻ mạnh khác. Khi nút cũ phục sinh, nó có thể Phục hồi lại tình hình cũ trước đó của bản thân.

    thiết đặt & thông số kỹ thuật

    Để kiểm tra khối hệ thống High Availability Linux, bạn cần một bộ điều hợp Ethernet thứ hai trên từng nút dành cho heartbeat. Thiết lập Web server Apache & chương trình heartbeat phải trên cả 2 nút. Nếu gói heartbeat không Nằm trong bất kỳ phần tàng trữ của những cung cấp đã có, chúng ta có thể download tại đây. Trên server CentOS, tôi dùng yum để cài đặt ứng dụng cần thiết:

    yum install -y httpd heartbeat

    Các file thông số kỹ thuật cho hearbeat không nằm ở nơi phần mềm được thiết đặt. Bạn cần copy chúng từ thư mục documentation tới folder /etc/ha.d/:

    CP /usr/share/doc/heartbeat*/ha.cf /etc/ha.d/
    CP /usr/share/doc/heartbeat*/haresources /etc/ha.d/
    CP /usr/share/doc/heartbeat*/authkeys /etc/ha.d/

    Trong file /etc/hosts bạn phải bổ sung thêm tên hostname & địa chỉ IP để hai nút rất có thể giao tiếp được với nhau. Trong tình huống của mình sẽ như thế này:

    192.168.1.1 server1
    192.168.1.2 server2

    Phải bảo đảm file /etc/hosts là giống nhau ở hai nút. Tiếp nối ping chúng, copy file từ nút này tới nút khác, sử dụng câu lệnh copy an toàn:

    scp /etc/hosts root@node2:/etc/

    tiếp sau, căn chỉnh file thông số kỹ thuật /etc/ha.d/ha.cf theo một số điểm vào để heartbeat rất có thể hoạt động:

    logfile /var/log/ha-log # chỗ để log mọi thứ từ heartbeat
    logfacility local0 # tiện ích sử dụng cho syslog hoặc logger
    keepalive 2 # thời gian giữa các heartbeat
    deadtime 30 # thời gian đến khi host được đề ra ‘chết’
    warntime 10 # năm kia khi cung cấp lưu ý lừ đừ “late heartbeat”.
    initdead 120 # thời gian chết thứ nhất (initdead)
    udpport 694 # cổng udp cho truyền thông bcast hoặc ucast
    bcast eth1 # giao diện quảng bá (broadcast)
    ucast eth1 10.0.0.1 # cluster 2 nút, vì vậy không cần dùng dạng đa tiếp thị (multicast)
    auto_failback on # tự động gửi khoáng sản sai trở lại nút chính
    node server1 # tên của nút trước tiên
    node server2 # tên của nút thứ 2

    Đây là các tuỳ chọn cơ sở rất cần thiết để heartbeat hoạt động. File này cần phải được thông số kỹ thuật tương đồng nhau trên cả 2 nút, ngoại trừ phần “ucast” (nơi để địa chỉ IP của hàng để gửi các gói tới).

    File tiếp theo sau là /etc/ha.d/haresources. Trong file này bạn cần định nghĩa tên nút chính, địa chỉ IP ảo (cluster IP) và tài nguyên dùng để bước đầu. Ở tình huống của chúng ta thì chính là Web server Apache.

    chỉ việc một dòng dữ liệu ở đây:

    server1 192.168.1.5 httpd

    Hãy chắc chắn là file này giống nhau trọn vẹn trên cả 2 nút. Để ý tên tài nguyên là tên gọi script khởi tạo đặt trong folder /etc/init.d. Nếu tên khoáng sản trong /etc/init.d không trọn vẹn giống nhau, heartbeat sẽ không hề tìm thấy khi cố gắng đọc nó & cả Apache lẫn hearbeat đều không còn khởi động được.

    File liên quan đến heartbeat sau cuối là /etc/ha.d/authkeys. File này cũng phải trọn vẹn giống nhau trên cả 2 nút & chỉ được đọc hoặc ghi bởi người tiêu dùng root. Nếu quyền lợi và nghĩa vụ bị cài đặt khác đi, heartbeat sẽ phủ nhận khởi động. Bạn cần phải thông số kỹ thuật file như vậy này:

    auth 1
    1 crc
    Mã:
    và giới hạn quyền đọc hoặc ghi chỉ dành cho người tiêu dùng root:
    [code]
    chmod 600 /etc/ha.d/authkeys
    
    bây giờ là thông số kỹ thuật Apache service. Chúng ta muốn Apache nghe địa chỉ IP ảo 192.168.1.5 & cần trỏ folder Apache gốc đến điểm cài đặt tài liệu /data, nơi các file Web được đánh dấu. Chú ý là chỗ tàng trữ giành riêng cho Apache rất có thể là một trong nơi cụ thể từ folder file hệ thống cục bộ tới mạng Quanh Vùng tàng trữ. Tất nhiên nếu tài liệu trong cả hai nút không giống nhau thì sẽ chẳng có điểm nào trong cluster failover cả. Nếu như khách hàng không có dòng thiết bị tàng trữ mạng mở rộng (như Fibre Channel chẳng hạn), bạn cũng có thể setup bất kể file hệ thống nào như SMB, NFS, iSCSI, hoặc SAN là folder bản địa để dữ liệu rất có thể được truy cập trên từng nút lúc các nút chuyển động. Điều này được thực hiện bằng cách căn chỉnh các thông số đầu vào trong file /etc/httpd/conf/httpd.conf như sau (ít đặc biệt là trên phân phối CentOS):
    
    Listen 192.168.1.5:80
    DocumentRoot "/data"
    
    Bỏ tác dụng ban đầu tự động hóa khởi động trong khoảng thời gian boot cho Apache service là khá quan trọng. Khi đó heartbeat sẽ bước đầu và kết thúc Dịch Vụ Thương Mại khi rất cần thiết. Loại bỏ hoá tác dụng ban đầu với câu lệnh sau (trên khối hệ thống Red Hat):
    
    chkconfig httpd remove
    
    Phải đảm bảo thông số kỹ thuật Apache giống nhau trên cả hai nút.
    
    Kiểm tra
    
    lúc này chúng ta sẽ kiểm tra thử chương trình làm việc với cấu hình vừa thiết đặt, bắt đầu tạo cluster mới, khởi động Thương Mại & Dịch Vụ hearbeat trên cả 2 nút:
    
    /etc/init.d/heartbeat start
    
    Nếu heartbeat start okay thì xin chúc mừng bạn đã cấu hình thành công heartbeat. Sau khoản thời gian reboot lại server bạn đợi khoảng 2 -- 3 phút để heartbeat khởi động.
    
    sau khi khởi động xong chúng ta cũng có thể check server được rồi.
    
    [B]>>> Xem thêm: [URL='http://maychuhanoi.vn/supermicro-x10drl-i-server-motherboard-dual-socket-r3-lga-2011-3-ddr4-213318661600-pr210.html']x10drl-i[/URL][/B]
     

Chia sẻ trang này